noi buon chien tranh
Categories: Văn học Việt Nam

NỖI BUỒN CHIẾN TRANH – Bảo Ninh

“Chiến tranh là cõi không nhà, không cửa, lang thang khốn khổ và phiêu bạt vĩ đại, là cõi không đàn ông, không đàn bà, là thế giới thảm sầu vô cảm và tuyệt tự khủng khiếp nhất của dòng giống con người.”
Mình đã từng nhìn chiến tranh ở nhiều góc nhìn có khi là những hình ảnh tươi đẹp “Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều” (Tố Hữu), sự hy sinh cũng đầy uy dũng “Anh ngã xuống trên đường băng Tân Sơn Nhất […] Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng” (Lê Anh Xuân), sự căm hận quân giặc khi hay tin đồng đội mình hy sinh “Hôm qua còn theo anh / Đi ra đường quốc lộ / Hôm nay đã chặt cành / Đắp cho người dưới mộ” (Hoàng Lộc). Nhưng nhìn chiến tranh một cách “trần trụi” như ở tác phẩm này thì thật sự, mình chưa từng nghĩ đến!
Một sự ám ảnh, một sự ngây người và một sự mộng mị! Tôi mộng mị bởi từng dòng suy nghĩ của Kiên khi bước vào cuộc chiến với khí thế hừng hực và bước ra khỏi cuộc chiến, anh loay hoay, vô định.
Tôi ngây người trước tình yêu của Kiên và Phương – hai con người “lạc loài”, “lạc thời”. Ở Kiên vẫn có chút gì đó gọi là “đúng thời” (theo cách nói của Phương), còn ở Phương – cô gái trong trẻo “lạc thời” đúng nghĩa. Ở cô, tôi bắt gặp một nét tương đồng với Sabina trong quyển “Đời nhẹ khôn kham” của Milan Kundera, cô phá vỡ những định nghĩa được định sẵn!
Và rồi tôi ám ảnh, ám ảnh đến kinh hoàng trong chuyến tàu đêm đó Phương đã bị …, những hình ảnh khốc liệt của chiến tranh gợi về trong từng dòng ký ức bị vỡ vụn của Kiên: cô giao liên Hòa hy sinh thân mình dụ địch sang chỗ khác để đồng đội không phải chạm mặt địch, Thịnh – người đồng chí đã nằm yên nghỉ nơi đại ngàn, ba cô gái ở trong đội giao liên bị những tên giặc sát hại, người đồng đội cầu xin Kiên bắn anh ta chứ đừng để anh chịu đau đớn thể xác nữa! Ám ảnh nhất vẫn là đêm hiến tế của cha Kiên qua lời kể của Phương, phải chăng đây là cách giải thoát cho những con người “lạc loài”? Bởi Phương từng nói “nếu cha anh mà là anh thì em đã yêu cha anh”, vì ở Kiên vẫn còn chút “đúng thời” so với Phương.
Những địa danh trong tác phẩm có cái tên rất đắt, như Truông Gọi Hồn – gợi cho ta không gian rừng thiêng nước độc, những âm vang của cỏ cây xào xạc như tiếng gọi của hồn sĩ tử. Cảm giác nơi chiến trường khốc liệt từ ngàn xưa vọng về “Non Kỳ quạnh quẽ trăng treo / Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò” (Chinh phụ ngâm). Không gian của Truông Gọi Hồn đã gợi biết bao ký ức, kỷ niệm cho Kiên về những người đồng chí, đồng đội.
Đồi Mơ – không gian bình yên, trong veo nhưng sau vẻ đẹp trong veo ấy là những mất mát, đau thương. Lan đã nói “Thời buổi khắc nghiệt – dài quá là dài, cuốn đi biết bao nhiêu là người… bao nhiêu là lượt tân binh đã về đóng ở nhà em, gọi mẹ em là mẹ, coi em là em, thế mà chỉ mỗi anh trở lại. Hai anh trai của em, các bạn học của em và cả anh ấy nhà em nữa đều là lứa đàn em của anh đi bộ đội sau các anh bao nhiêu năm nhưng chẳng ai thoát về được cả.” Và rồi mẹ của Lan mất khi hay tin hai đứa con trai của mình tử trận!
Tác phẩm như con thuyền đi ngược dòng sông, không ngừng bị đẩy lùi vào dĩ vãng. Phương bỏ đi rồi, vì sao Phương bỏ đi? Bước ra khỏi cuộc chiến, tình cảm tuổi 17 của Phương và Kiên thế nào? Kiên nên làm gì tiếp theo? Những câu hỏi cứ liên tục đặt ra khi mình đọc tác phẩm.
Trong tác phẩm tôi thích nhất hình ảnh cô gái câm ở tầng trên – tấm gương phản chiếu Kiên, nơi anh xem như “bản nháp” để anh ghi lại các ý tưởng. Cô không thể trả lời anh, không thể đáp lại câu hỏi của anh nhưng sự im lặng của cô đã tạo ra âm thanh! Âm thanh của những suy nghĩ, lời nói Kiên bị va đập vào không gian và vọng lại vào trong quyển tiểu thuyết! Một quyển tiểu thuyết mà Kiên bỏ đó rồi đi mất, chẳng ai biết được anh đi đâu.
Chiến tranh là gì? Là những mất mát đau thương, dù thắng trận hay bại trận thì những mất mát của chiến tranh đem lại là điều không thể nào tránh khỏi. Khoảnh khắc Kiên đi tìm thi hài của các chiến sĩ ngã xuống, tôi bỗng nhớ tới hình ảnh trong tác phẩm “Truyền thuyết Quán Tiên” của nhà văn Xuân Thiều, hình ảnh người chiến sĩ đã nằm trong võng mắc ở trên cành cây cao vì bệnh sốt rét. Sự đối mặt của chiến tranh không chỉ khốc liệt bởi mưa bom bão đạn mà còn là những căn bệnh nguy hiểm, tựa như câu thơ của nhà thơ Quang Dũng “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc / Quân xanh màu lá dữ oai hùm”. Và rồi bước ra khỏi cuộc chiến, họ còn lại gì? Những người mẹ mất con, những người vợ mất chồng “Ngày mai sẽ là ngày sum họp / Đã tỏa sáng. Những tâm hồn cao đẹp / Nắng vẫn còn ngời trên những mắt lá si / Và người chồng ấy đã ra đi…” (Nguyễn Mỹ) hay chuyện tình yêu dang dở với âm dương cách biệt “Ai viết tên em thành liệt sĩ / Bên những hàng bia trắng giữa đồng / Nhớ em, anh gọi: em, đồng chí / Một tấm lòng trong vạn tấm lòng…” (Núi đôi – Vũ Cao)
Một tác phẩm rất đáng đọc của dòng văn chiến tranh! Tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh khiến mình tốn hơn 3 tuần mới đọc xong vì không đủ can đảm đọc tiếp, phải dừng để tìm sự cân bằng. Đọc văn học chiến tranh không chỉ để hiểu chiến tranh mà còn để biết yêu thêm hòa bình hôm nay ta đang có. Thế hệ trẻ cần phải có cái nhìn đúng đắn, hiểu biết về lịch sử để cống hiến sức mình cho Tổ quốc. Vì mỗi tấc đất, dòng sông, mây trắng cũng là sự “hóa thân vào dáng hình xứ sở” của những người nằm xuống bảo vệ Tổ quốc hôm nay như câu thơ của Giang Nam:
“Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm
Có những ngày trốn học bị đòn roi…
Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất
Có một phần xương thịt của em tôi!”